@
Đối với cái thế giới mà con người đã tạo dựng trên địa cầu ngày nay, cái câu chuyện vê "tội lỗi nguyên thủy" do Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo kể ra nghe thật chẳng xuôi tai cho lắm . Nó đi ngược với những nguyên tắc về công lý và nhân quyền như được chấp nhận là căn bản của các nền văn minh hiện đại .
Có lẽ vì cái nghĩa đen của mọi chuyện trong Kinh Thánh không còn tác dụng trong cuộc sống đương thời nữa cho nên tác giả của cuốn sách The Divinely Sinful Saints đã phải ra công xuất bản thêm một quyển khác vào đầu năm 2020, nhan đề “Esoteric Christianity Made Simple” , ( tạm dịch: “Đạo Chúa Bí Truyền Lược Giản”). Quyển sách này diễn dịch lại một số những lời giảng cốt yếu nhất trong Thánh kinh, cả Tân Ước lẫn Cựu Ước . Sách đề nghị người đọc nên tìm hiểu Thánh kinh qua các biểu tượng (symbols) và ngụ ngôn (parables), ẩn dụ (metaphors) thì sẽ vượt qua được những trở ngại do “nghĩa đen” gây ra, và sẽ thấy được rõ ràng hơn về cái tạm gọi là “Hành trình Tiến Hóa Tinh Thần của Con Người”.
Những trở ngại do “nghĩa đen” gây ra là gì? Và tại sao lại có sự kiện một số thuyết giảng, giáo lý trong Thánh kinh phải dùng đến biểu tượng (symbols), ngụ ngôn (parables), và ẩn dụ (metaphors)?
Việc đầu tiên chúng ta có thể thấy được là khi hiểu theo sát “nghĩa đen” (literally) thì sẽ có rất nhiều sự kiện diễn tả trong Thánh kinh trở nên … kỳ quặc, nếu không muốn nói là … “khó tin”, vì lý lẽ ngược ngạo, không phải chỉ vô lý, mà còn không có đồng nhất (consistent), trước sau như một.
Thí dụ như qua những khái niệm về Cứu Rỗi và Phục Sinh vừa nói đến ở các chương trước, chỉ cần suy nghĩ một chút, với thái độ khách quan, không vội vàng nhất quyết đi theo một kết luận thiên vị nào, thì nếu cứ ráng “hiểu” theo sát nghĩa đen, đa số chúng ta ai cũng sẽ không khỏi thắc mắc, tối thiểu là ở một vài điểm như sau:
1) Khái niệm về Cứu Rỗi đặt căn bản trên cái đòi hỏi rằng tất cả con người cần phải “chuộc tội” đối với Thượng Đế. Cái "tội nền cội" này (the original sin), xét cho cùng, chỉ là tội không vâng lời, đi “ăn vụng” mấy “trái cấm” trên cây Kiến Thức bởi hai vị “tổ tông” của loài người. Chẳng lẽ chỉ vì một sự “lỡ dại” nhỏ mọn này , mà Thượng Đế, một đấng Toàn Năng, Toàn Giác, Sáng Thế, tạo lập ra Trời Đất, vạn vật muôn loài, lại có thể trừng phạt một cách nặng nề như thế? ( hình phạt có thể nói là tương đương với “khổ sai chung thân”); và không phải chỉ nhắm vào hai kẻ “phạm tội”, mà còn kết tội cả đến mọi con cháu muôn đời về sau của hai can phạm đó nữa ?
(2) Về vấn đề Phục Sinh, thử hỏi “Phục Sinh” có thật là phải mang nghĩa “đội mồ sống dậy”, mở cửa mả mà đi ra như thế không? Hay là chúng ta lại đã vì theo sát “nghĩa đen” mà hiểu lầm?
Với quyền năng của một đấng đã tạo dựng nên cả trời đất, vạn vật muôn loài, việc tin tưởng vào “phép lạ” của Thượng Đế có thể làm cho một thân xác vật lý xương thịt sống lại sau khi đã chết quả thật không gì là khó hết. Thượng Đế có thể rất dễ dàng tạo dựng cho mọi linh hồn một thân xác xương thịt mới để mà phục sinh . Như vậy vì sao Kinh Thánh lại phải dùng cái hình ảnh cục mịch của một thân xác cũ “đội mồ sống dậy” để diễn tả cái sự kiện này ?
(3) Một điểm khác thường đáng kể nữa là cái sự tối quan trọng của “cái lòng tin rằng Ðức Chúa Trời đã khiến cho chúa Jesus từ thân kẻ chết được sống lại”. Giáo đạo Ki-Tô đòi hỏi rằng các tín đồ, nếu muốn được ”cứu rỗi” thì cần phải có đức tin đó .
Một khi đã tin được là Thượng Đế có thể làm ra con người từ “bụi đất”, như đã viết trong Sáng Thế Ký (STK 2:7) … thì đâu có khó khăn gì để tin rằng Thượng Đế có thể “làm chúa Jesus từ kẻ chết sống lại”. Vậy mà tại sao sự tin tưởng này lại được xem như một điều kiện tối cần để chứng tỏ “đức tin” của các tín đồ đạo Chúa?
Những sự suy xét kể trên cho thấy rằng Thánh Kinh không thể được tiếp thụ theo sát nghĩa đen một cách triệt để . Chắc hẳn là người ghi viết Thánh Kinh ngày trước đã dùng rất nhiều biểu tượng (symbols), ngụ ngôn (parables), hoặc ẩn dụ (metaphors). Việc này sẽ trở nên rõ ràng hơn khi ta nhìn qua các khía cạnh sau đây :
1) Vào hai ngàn năm về trước , các phương tiện ấn loát xuất bản hằng loạt không có hiện hữu . Mọi chuyện ghi viết , sao chép, đều phải được làm bằng tay . Người viết Thánh kinh ngày đó
phải hết sức cẩn trọng và khéo léo chế biến trong công trình tạo ra tác phẩm của mình . Mục đích cốt yếu là làm sao cho tác phẩm đó có thể có giá trị và hiệu ứng không phải chỉ cho một giới độc giả riêng biệt nào vào thời đó, mà còn là cho đủ loại người đọc ở nhiều trình độ tri thức và tâm linh khác nhau, xuyên qua bao nhiêu thế hệ về sau nữa. Để đạt mục tiêu này cái phương cách thoả ứng nhất có lẽ là dùng các biểu tượng, ngụ ngôn, và ẩn dụ , bởi lẽ bằng cái đường lối này thì cùng một chữ, một câu, một mô tả, có thể được “hiểu” và được diễn giải qua nhiều “ý nghĩa” khác nhau, tùy theo “trình độ” của người đọc.
2) Khi nói về những sự kiện liên quan đến thế giới tinh thần, tâm linh vô hình, ngôn ngữ của con người trong thế giới vật chất không có đủ từ ngữ để diễn tả những sự kiện, thực thể, hiện hữu ở trong, hay trực thuộc về những cõi giới cao hơn thế giới vật chất . Người viết Thánh kinh không có lựa chọn nào khác ngoài cách xử dụng biểu tượng, ẩn dụ để mà trình bầy những ý nghĩa vốn là rất xa lạ khác thường .
3) Có những "sự thật" về cuộc đời và về con người, nếu nói thẳng ra thì có thể là quá phũ phàng , đa số sẽ chưa đủ căn cơ để mà tiếp thụ trực tiếp được . Người viết Thánh kinh chắc phải cẩn trọng và trình bày sự việc một cách bóng gió, gián tiếp qua các từ ngữ vi' von , qua chuyện ngụ ngôn, chuyện cổ tích ..v..v.. thì con người mới có thể dễ tiếp nhận dần dần hơn .
Xét chung thì khi đọc Thánh Kinh, sự cố gắng vượt qua cái hàng rào của “nghĩa đen”, để mà tìm hiểu các ý nghĩa sâu xa có thể nằm dấu sau mọi biểu tượng, ngụ ngôn , sẽ là một phương pháp hữu hiệu để giải mã những sự kiện mà thoạt nhìn có vẻ … kỳ quặc, vô lý, hoặc rất “khó hiểu” trong Kinh Thánh .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét